Gắn liền với hình ảnh cây tre, ngọn nứa nơi đầu làng góc xóm, nghề đan lát thủ công là một trong những nét văn hóa nguyên sơ và bền chặt nhất của đời sống nông thôn Việt Nam. Riêng tại Hà Nội, nơi hội tụ hơn một phần ba làng nghề của cả nước, nghề mây tre giang đan và đan guột tế không dừng lại ở việc sản xuất những vật dụng sinh hoạt gia đình mộc mạc. Trải qua hàng trăm năm biến chuyển, chất liệu cỏ cây hoang dã của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ đã được nâng tầm thành những tác phẩm mỹ nghệ tinh xảo, thể hiện tư duy thẩm mỹ thăng hoa và cốt cách cần lao của con người đất kinh kỳ.
Cội nguồn lịch sử: Từ vật dụng dân sinh đến nghệ thuật đan lát đỉnh cao
Lịch sử nghề mây tre đan tại vùng đất xứ Đoài – Hà Tây xưa (nay thuộc Hà Nội) đã có từ khoảng thế kỷ 17, tức thời kỳ Hậu Lê. Ban đầu, việc đan lát xuất phát từ nhu cầu thiết thực của cư dân nông nghiệp: đan thúng, mủng, rổ, rá, đó bắt cá hay nong nia phơi thóc. Nguồn nguyên liệu tre, nứa, giang có sẵn trong vườn nhà hay mây rừng, cây guột (còn gọi là cây tế) mọc hoang dại trên các triền đồi cằn cỗi đã được người nông dân tận dụng tối đa vào những ngày nông nhàn.
Dần dà, người thợ làng nghề nhận ra đặc tính vượt trội của từng loại cây: sợi mây mềm dẻo, dai bền; thanh giang trắng muốt, dễ chẻ mỏng như sợi chỉ; thân tre cứng cáp làm khung sườn; và đặc biệt là thân cây guột đỏ au tự nhiên, dẻo dai và chống chịu mối mọt cực tốt. Khi đôi bàn tay người thợ ngày một tinh thông, sản phẩm đan lát vượt ra khỏi ranh giới bờ tre gốc đa để tiến về kinh thành Thăng Long, phục vụ cho các gia đình quyền quý và cung đình qua các mặt hàng tinh xảo như khay trầu, cơi đựng đồ trang sức, làn mây hay lọng che.
Đến thế kỷ 20, đặc biệt là giai đoạn đổi mới và mở cửa, nghề mây tre giang đan và guột tế Hà Nội bước vào kỷ nguyên hoàng kim. Các mặt hàng xuất khẩu sang Đông Âu, Tây Âu, Nhật Bản và Mỹ tăng vọt, biến vùng ven đô thành công xưởng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sôi động hàng đầu cả nước.
Những cái nôi mây tre đan, guột tế trứ danh của Thủ đô
Bản đồ làng nghề Hà Nội ghi dấu nhiều trung tâm đan lát nổi tiếng, trong đó tiêu biểu nhất là hai thủ phủ thuộc huyện Chương Mỹ và Phú Xuyên:
-
Làng mây tre đan Phú Vinh (xã An Khánh, huyện Chương Mỹ): Được mệnh danh là “vương quốc mây tre đan”, Phú Vinh có lịch sử nghề hơn 400 năm. Nghệ nhân Phú Vinh nổi tiếng khắp trong và ngoài nước bởi kỹ thuật đan nan nan khít, không để lộ mối nối và khả năng uốn lượn sợi mây linh hoạt như sợi chỉ thêu. Từ các sản phẩm gia dụng truyền thống đến hoành phi, câu đối, tranh chân dung, đèn trang trí nội thất phong cách Bắc Âu, Phú Vinh đều chế tác đạt đến độ hoàn mỹ.
-
Làng nghề đan cỏ tế (guột) Lưu Thượng (xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên): Cây guột – loài cây hoang dại mọc nhiều ở vùng rừng núi phía Bắc – khi về tới làng Lưu Thượng đã trở thành “vàng ròng”. Nghề đan cỏ tế nơi đây hình thành từ cuối thế kỷ 17 do cụ tổ Nguyễn Thảo Huyền truyền dạy. Sợi guột sau khi phơi khô có màu nâu đỏ bóng mượt tự nhiên, không cần hóa chất tạo màu mà vẫn giữ được độ bền đẹp qua hàng chục năm. Phú Túc ngày nay là trung tâm xuất khẩu hàng thủ công guột tế, mây tre lớn bậc nhất cả nước với hàng nghìn mẫu mã đa dạng.
Bàn tay tài hoa: Dấu ấn và đỉnh cao kỹ nghệ của các nghệ nhân
Khác với nghề mộc hay kim hoàn có thể sử dụng máy móc hỗ trợ tạo hình, nghề mây tre đan và guột tế phụ thuộc hoàn toàn vào đôi bàn tay trần và cảm quan của người thợ. Để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh, quy trình xử lý nguyên liệu và thao tác kỹ thuật vô cùng khắt khe:
-
Tuyển chọn và xử lý nguyên liệu: Mây phải chọn cây bánh tẻ, giang phải thẳng gióng, không quá già cũng không quá non. Nguyên liệu được đem ngâm nước, luộc, phơi khô rồi sấy diêm sinh để chống mối mọt và nấm mốc. Cỏ tế phải chọn thân tròn, bóng, phơi qua nhiều nắng cho ngả sang màu cánh gián tự nhiên.
-
Kỹ thuật chẻ nan và chuốt sợi: Đây là công đoạn thử thách tài hoa nghệ nhân. Từ một ống giang hay lóng mây, người thợ dùng con dao mỏng tách thành từng lớp nan mỏng manh, đều tăm tắp như sợi chỉ mà không bị xơ, đứt đoạn.
-
Kỹ thuật đan và kết hoa văn: Nghệ nhân Hà Nội nắm giữ hàng chục lối đan biến hóa kỳ diệu: đan long mốt, long hai, đan mắt cáo, đan vảy rồng, đan cài hoa…
Dấu ấn của nghệ nhân Hà Nội in đậm nhất ở nghệ thuật đan tranh chân dung và hoành phi bằng sợi giang. Những nghệ nhân tiêu biểu của làng Phú Vinh như cố Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Khiếu, hay con trai ông là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Tĩnh đã nâng tầm nghề đan lát lên đỉnh cao nghệ thuật tạo hình. Bằng cách kết hợp các sợi giang nhuộm màu tự nhiên đan xen kẽ nhau với mật độ dày đặc hàng nghìn mối đan trên một tấc vuông, các nghệ nhân đã khắc họa sống động chân dung các danh nhân, tranh phong cảnh làng quê Việt Nam với đầy đủ sắc độ sáng tối và chiều sâu biểu cảm không thua kém tranh vẽ bằng cọ.
Người nghệ nhân mây tre đan Hà Nội không chỉ là người thợ khéo tay, họ còn là những người kiến trúc sư chất liệu, thổi hồn sự sống vào những cọng cỏ hoang sơ để biến chúng thành những tác phẩm mang đậm phong vị Á Đông.
Vươn mình hòa nhập dòng chảy xanh hiện đại
Trước xu hướng tiêu dùng xanh và giảm thiểu rác thải nhựa trên toàn cầu, các sản phẩm mây tre giang đan và guột tế Hà Nội đang đón nhận vận hội phát triển mới. Với nguồn gốc 100% tự nhiên, thân thiện với môi trường, các sản phẩm bàn ghế mây, khay đựng đồ, giỏ thời trang hay chao đèn mỹ thuật của Hà Nội ngày càng được các thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản đánh giá cao.
Sự gắn kết giữa truyền thống và tinh thần đổi mới sáng tạo đã giúp các làng nghề mây tre đan Thủ đô giữ vững sức sống bền bỉ. Từng sợi mây, nan giang đan xen nhau không chỉ tạo nên hình hài một vật phẩm, mà còn đan dệt cả nét đẹp cần mẫn, sự tài hoa và bản sắc văn hóa ngàn năm của người Hà Nội vươn xa ra thế giới.


