Nếu dòng chảy gốm sứ tượng trưng cho sự gắn kết giữa đất và lửa, sơn mài là chiều sâu thăm thẳm của thời gian, thì nhóm nghề khảm trai, điêu khắc gỗ và tiện sừng mỹ nghệ lại là đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình bề mặt và chạm khắc chi tiết. Trên mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ngàn năm lắng đọng phù sa văn hóa, những mảnh vỏ trai thô ráp dưới lòng sông sâu, chiếc vỏ ốc biển óng ánh sắc ngũ sắc, từng súc gỗ xù xì nơi rừng thẳm hay chiếc sừng trâu mộc mạc đều có thể hóa thân thành những kiệt tác sống động. Dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân kinh kỳ, những chất liệu tự nhiên ấy đã được đánh thức, mang trong mình ánh sáng lộng lẫy và cốt cách của một nền thủ công mỹ nghệ trứ danh.

Dòng chảy lịch sử: Từ đồ ngự dụng cung đình đến bảo vật văn hóa

Lịch sử nghề chạm khắc gỗ, khảm xà cừ và chế tác sừng tại Hà Nội có cội rễ sâu xa, đan bện chặt chẽ với quá trình hưng thịnh của kinh đô Thăng Long qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

Nghề khảm xà cừ (khảm trai) ở Hà Nội được coi là có lịch sử gần nghìn năm, khởi nguồn từ thời nhà Lý. Tương truyền, ông tổ nghề khảm trai là Trương Công Thành – một vị tướng thời Lý sau khi từ quan đã đi chu du khắp non sông, học hỏi bí quyết ghép vỏ trai, vỏ ốc thành họa tiết và về truyền dạy cho người dân vùng ven sông Nhuệ. Khi triều đình định đô tại Thăng Long, nhu cầu trang hoàng cung điện, đền đài, làm đồ thờ tự và đồ dùng ngự chế cao cấp đã đưa nghề khảm trai, chạm gỗ đạt tới bước phát triển rực rỡ.

Nghề mộc mỹ nghệ điêu khắc cũng thăng hoa song hành với kiến trúc đình chùa, lăng tẩm và nhà rường cổ truyền. Những phường thợ mộc tài hoa xứ Đoài, xứ Bắc xưa quy tụ về kinh thành Thăng Long, lập nên các phố nghề như Hàng Khay, Hàng Hòm, Tô Tịch, tạo nên những tác phẩm điêu khắc gỗ chạm lộng, chạm nổi độc nhất vô nhị.

Song song đó, nghề chế tác sừng mỹ nghệ hình thành từ hàng trăm năm trước tại vùng đồng bằng châu thổ, tận dụng phụ phẩm chăn nuôi như sừng trâu, sừng bò để làm lược chải tóc, trâm cài đầu, quân cờ và tẩu thuốc. Trải qua bao biến thiên lịch sử, từ các sản phẩm cung phụng vua chúa và tầng lớp quý tộc, các nhóm nghề này đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể quý báu, gắn liền với danh xưng đất trăm nghề của Thủ đô.

Những cái nôi làng nghề nức tiếng đất Thăng Long

Bản đồ thủ công mỹ nghệ Hà Nội định hình nên những trung tâm chuyên biệt, nơi mỗi làng nghề giữ một bí quyết chế tác độc bản:

  • Làng khảm trai Chuyên Mỹ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên): Được xem là “cái nôi” của nghề khảm xà cừ toàn quốc với tuổi đời gần thiên niên kỷ. Nơi đây gồm nhiều thôn làm nghề như Chuôn Ngọ, Chuôn Thượng, Chuôn Trung… Nghệ nhân Chuyên Mỹ nức tiếng với kỹ thuật xẻ trai, cưa đục, nạo dăm và cẩn ốc xà cừ đỏ vàng (loại ốc quý nhập từ biển khơi) trên nền gỗ trắc, gỗ mun, tạo nên các bộ hoành phi, câu đối, sập gụ, tủ chè và tranh phong cảnh đạt độ sắc nét tuyệt đối.

  • Làng mộc mỹ nghệ Thiết Ứng và Dư Dụ: Nếu như làng Thiết Ứng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh) lừng danh với nghề đục tượng gỗ tinh xảo, chạm khắc hoa văn rồng phượng uốn lượn phục vụ nội thất tâm linh, thì làng Dư Dụ (xã Thanh Thùy, huyện Thanh Oai) lại nức tiếng với kỹ nghệ tạc tượng Phật, tượng chân dung thần thái sống động, giữ trọn vẻ đẹp tự nhiên của từng đường vân thớ gỗ.

  • Làng lược sừng Thụy Ứng (xã Hòa Bình, huyện Thường Tín): Đây là làng nghề độc nhất vô nhị chuyên chế tác sừng trâu, sừng bò có lịch sử hơn 400 năm. Từ những chiếc sừng cong queo, thô kệch, người thợ Thụy Ứng dùng nhiệt và đôi tay khéo léo để ép phẳng, cưa răng làm lược, tạc thành tượng nghệ thuật, vòng đeo tay, thìa dĩa và các phụ kiện thời trang cao cấp xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu.

Dấu ấn nghệ nhân: Kỹ nghệ công phu và linh hồn tác phẩm

Dù là khảm trai, chạm gỗ hay uốn sừng, quy tắc chung của những nghề này là không có chỗ cho sự vội vã. Mỗi sản phẩm ra đời đều là một bản giao hưởng giữa độ chính xác cơ học và mỹ cảm tinh tế của người nghệ nhân.

  • Kỹ thuật “cưa lọng” và “nạo cẩn” trong khảm trai: Nghệ nhân phải chẻ những mảnh vỏ trai, vỏ ốc mỏng manh chỉ bằng vài milimet, dùng cưa lọng miết theo từng đường nét vẽ li ti, sau đó đục lõm mặt gỗ theo đúng hình dáng ấy rồi ép miếng ốc vào. Sai lệch một phần mười milimet cũng làm hỏng đường nét. Tài nghệ của các Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú ở Chuyên Mỹ như nghệ nhân Nguyễn Phú Vinh hay Trần Bá Dinh thể hiện ở kỹ thuật “khảm truyền thần” – lột tả ánh mắt, khóe cười, nếp nhăn nhân vật bằng sự biến đổi màu sắc tự nhiên của vân ốc khi nhìn từ các góc độ ánh sáng khác nhau.

  • Nghệ thuật “thổi hồn” vào thớ gỗ: Người thợ chạm khắc gỗ Hà Nội không chỉ dùng đục, chàng để gọt giũa hình khối, mà họ còn thấu hiểu từng thớ gỗ. Họ biết cách nương theo mắt gỗ, vân gỗ uốn lượn để tạo hình râu rồng, nếp áo Phật, hay thế đứng oai nghiêm của các danh tướng, biến sự thô mộc của gỗ thành vẻ uy linh thoát tục.

  • Tài biến hóa chiếc sừng trâu: Ở làng Thụy Ứng, kỹ thuật hơ lửa, ép sừng đòi hỏi sự nhạy cảm tuyệt đối về nhiệt độ. Quá lửa sừng sẽ giòn gãy, non lửa sừng sẽ không phẳng. Bằng kinh nghiệm truyền đời, người thợ kéo độ bóng mịn của sừng lên mức tối đa, làm nổi bật những đường vân khói lam, vân hổ phách quý hiếm ẩn giấu sâu bên trong chất sừng tự nhiên.

Diện mạo đương đại và sức sống trường tồn

Bước vào thế kỷ 21, đứng trước làn sóng sản xuất công nghiệp và công nghệ khắc laser, các làng nghề khảm trai, mộc và sừng mỹ nghệ Hà Nội đã chủ động chuyển mình thích ứng. Các nghệ nhân không bảo thủ giam mình trong các mẫu cổ truyền mà mạnh dạn bắt tay với các nhà thiết kế hiện đại.

Vỏ ốc xà cừ Chuyên Mỹ giờ đây hiện diện trên vỏ đồng hồ sang trọng, hộp đựng bút ký, đàn guitar hay phụ kiện thời trang dạ hội; gỗ mỹ nghệ bước vào các không gian kiến trúc nội thất tối giản mang tính đương đại; sừng Thụy Ứng trở thành trang sức thủ công bền vững, thân thiện với môi trường được các sàn diễn thời trang quốc tế săn đón.

Nghề khảm trai, điêu khắc gỗ và tiện sừng mỹ nghệ tại Hà Nội không chỉ là kế sinh nhai của hàng vạn thợ thủ công, mà chính là những pho sử sống động được khắc họa bằng vật chất. Giữa nhịp sống đô thị hóa hối hả, từng tiếng đục lách cách, tiếng cưa lọng rào rạt và mùi thơm đặc trưng của mạt cưa, bụi ốc ven đô vẫn ngày đêm vang vọng. Đó là nhịp đập bền bỉ của di sản, khẳng định vị thế vững vàng của tinh hoa thủ công đất Hà thành trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *